Trang Nhà Niềm Tin

Who's Online

Hiện có 4 khách Trực tuyến

Đăng Nhập



Chương Trình Sinh Hoạt

Sunday Devotion:

09:00am — 09:30am

Sunday Bible Classes:

09:30am — 10:15am

Sunday Worship Service:

10:30am — 12:00pm

1st Sunday of the Month Fellowship Lunch:

12:00pm — 1:30pm

Friday Night Bible Study:

08:00pm — 09:30pm

We also have various activities during weekdays. Please contact us for more information.

 

Quản Nhiệm:

Mục sư Lâm Văn Minh
Điện Thoại: 407-883-5154

 

Địa Chỉ Hội Thánh:

5838 W. Amelia St.

Orlando, FL 32835

View Map

 

Thư Từ Liên Lạc:

Vietnamese Baptist Church

P.O. Box 616729

Orlando, FL 32861-6729

 

Từ điển tiếng Việt

Tra từ điển:

 

Niềm tin PDF. In Email
Thứ ba, 04 Tháng 3 2008 00:00

Our Faith - Niềm Tin Của Người Tin Lành Báp-tít

Hội Thánh Tin Lành Báp Tít Việt Nam Orlando, Florida là thành viên của Hội Báp-tít tiểu ban Florida, Hội Báp-tít giáo khu Orlando, và Hội Liên Hữu Báp Tít Việt Nam chấp nhận bản Đức Tin và Thông Điệp Của Người Tín Hữu Báp-Tít, tu chỉnh trong Đại Hội Báp Tít Nam Phương vào ngày 14 tháng 6 năm 2000, để làm mẫu mực. Mục đích của bản tuyên xưng đức tin và thông điệp nầy là để đưa ra những giáo huấn rõ ràng mà chúng tôi tin.

 

 

Vietnamese Baptist Church of Orlando, Florida, a member of the Florida Baptist Convention, Greater Orlando Baptist Association and Vietnamese National Baptist Fellowship, U.S.A., adopts the Baptist Faith and Message of the Southern Baptist Convention dated June 14th, 2000. The purpose of this statement of faith and message is to set forth certain teachings which we believe.

 

I. Kinh Thánh - The Scriptures

 

Kinh Thánh được viết bởi những người được sự soi dẫn thiên thượng và ghi lại thế nào Đức Chúa Trời khải thị chính mình cho nhân loại, và là một kho tàng hoàn mỹ của sự giáo huấn thiêng liêng. Kinh Thành có Đức Chúa Trời làm tác giả, có sự cứu rỗi làm chủ đích và có lẽ thật, không pha trộn sai lầm trên căn bản. Lẽ ấy, cả Kinh Thánh là chân thật và đáng tin trọn vẹn. Kinh Thánh tiết lộ những nguyên tắc mà Đức Chúa Trời dùng để xét xử chúng ta; vì thế, từ nay cho đến tận thế, Kinh Thánh là trung tâm đích thực của sự hiệp nhất Cơ Đốc, và là tiêu chuẩn tối cao để định giá mọi tín điều, hành động, và ý kiến tôn giáo của loài người. Cả Kinh Thánh là một lời chứng về Đấng Christ, vì chính Ngài là trọng điểm của sự khải thị thiêng liêng.

 

The Holy Bible was written by men divinely inspired and is God's revelation of Himself to man. It is a perfect treasure of divine instruction. It has God for its author, salvation for its end, and truth, without any mixture of error, for its matter. Therefore, all Scripture is totally true and trustworthy. It reveals the principles by which God judges us, and therefore is, and will remain to the end of the world, the true center of Christian union, and the supreme standard by which all human conduct, creeds, and religious opinions should be tried. All Scripture is a testimony to Christ, who is Himself the focus of divine revelation.

 

Exodus 24:4; Deuteronomy 4:1-2; 17:19; Joshua 8:34; Psalms 19:7-10; 119:11,89,105,140; Isaiah 34:16; 40:8; Jeremiah 15:16; 36:1-32; Matthew 5:17-18; 22:29; Luke 21:33; 24:44-46; John 5:39; 16:13-15; 17:17; Acts 2:16ff.; 17:11; Romans 15:4; 16:25-26; 2 Timothy 3:15-17; Hebrews 1:1-2; 4:12; 1 Peter 1:25; 2 Peter 1:19-21.

 

II. Đức Chúa Trời - God

 

Chỉ có một Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật. Ngài là Đấng có nhân tánh, thông sáng, và thiêng liêng, là Đấng Tạo Hóa, Đấng Cứu Chuộc, Đấng Bảo Tồn và là Đấng Cầm Quyền trên cả vũ trụ. Ngài thánh khiết vô biên và hoàn hảo trọn vẹn; sự hiểu biết của Ngài cả trong quá khứ, hiện tại lẫn tương lai, và ngay trên những quyết định tương lai của mọi tạo vật được dựng nên bởi Ngài. Chúng ta mắc nợ Ngài tình yêu, lòng tôn kính, và sự vâng lời tuyệt đối. Đức Chúa Trời Ba Ngôi hằng hữu bày tỏ chính Ngài cho chúng ta qua Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh, với những thân vị khác biệt, nhưng không phân ly trong bản tính, bản chất hay bản thể.

 

There is one and only one living and true God. He is an intelligent, spiritual, and personal Being, the Creator, Redeemer, Preserver, and Ruler of the universe. God is infinite in holiness and all other perfections. God is all powerful and all knowing; and His perfect knowledge extends to all things, past, present, and future, including the future decisions of His free creatures. To Him we owe the highest love, reverence, and obedience. The eternal triune God reveals Himself to us as Father, Son, and Holy Spirit, with distinct personal attributes, but without division of nature, essence, or being.

 

A. Đức Chúa Cha - God the Father

 

Đức Chúa Cha cai quản và châm sóc cả vũ trụ, mọi tạo vật, Ngài hướng dẫn dòng lịch sử loài người đi theo mục đích ân phúc của Ngài. Ngài là Đấng đầy quyền năng. đầy yêu thương, hiểu mọi sự, và đầy khôn ngoan. Đức Chúa Trời là Cha trong lẽ thật cho những ai muốn nên con cái Ngài khi đặt lòng tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài xem mình là Cha của tất cả mọi người.

 

God as Father reigns with providential care over His universe, His creatures, and the flow of the stream of human history according to the purposes of His grace. He is all powerful, all knowing, all loving, and all wise. God is Father in truth to those who become children of God through faith in Jesus Christ. He is fatherly in His attitude toward all men.

 

Genesis 1:1; 2:7; Exodus 3:14; 6:2-3; 15:11ff.; 20:1ff.; Leviticus 22:2; Deuteronomy 6:4; 32:6; 1 Chronicles 29:10; Psalm 19:1-3; Isaiah 43:3,15; 64:8; Jeremiah 10:10; 17:13; Matthew 6:9ff.; 7:11; 23:9; 28:19; Mark 1:9-11; John 4:24; 5:26; 14:6-13; 17:1-8; Acts 1:7; Romans 8:14-15; 1 Corinthians 8:6; Galatians 4:6; Ephesians 4:6; Colossians 1:15; 1 Timothy 1:17; Hebrews 11:6; 12:9; 1 Peter 1:17; 1 John 5:7.

 

B. Đức Chúa Con - God the Son

 

Đấng Christ là Con đời đời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Jêsus Christ là Đức Chúa Trời nhập thể. Ngài được hoài thai bởi Đức Thánh Linh và sinh bởi nữ đồng trinh Ma-ri. Đức Chúa Jêsus đã tỏ bày và thi hành trọn vẹn ý định của Đức Chúa Trời. Dù Ngài mặc lấy hình người, hòa mình với loài người, chịu chung những đòi hỏi cùng nhu cầu của loài người; nhưng Ngài hoàn toàn vô tội. Ngài tôn trọng luật pháp thiêng thượng bởi lòng vâng phục, và qua sự chết thay của Ngài trên thập tự giá, Ngài đã ban cho loài người sự cứu rỗi khỏi ách tội lỗi. Ngài đã từ kẻ chết sống lại trong một thân thể vinh quang và hiện ra cùng các môn đệ như trước khi Ngài bị đóng đnh. Ngài đã thăng thiên và hiện ngồi bên hữu Đức Chúa Trời để làm Đấng Trung Bảo, là Đấng dự phần trọn vẹn bản tánh Đức Chúa Trời và bản tánh con người. Nhờ Ngài mà loài người được phục hòa cùng Đức Chúa Trời. Ngài sẽ trở lại trong vinh quang và quyền năng để xét đoán thế gian và làm trọn sứ mạng cứu chuộc của Ngài. Ngài đang sống trong những người tin như một Chúa sống và luôn luôn hiện diện.

 

Christ is the eternal Son of God. In His incarnation as Jesus Christ He was conceived of the Holy Spirit and born of the virgin Mary. Jesus perfectly revealed and did the will of God, taking upon Himself human nature with its demands and necessities and identifying Himself completely with mankind yet without sin. He honored the divine law by His personal obedience, and in His substitutionary death on the cross He made provision for the redemption of men from sin. He was raised from the dead with a glorified body and appeared to His disciples as the person who was with them before His crucifixion. He ascended into heaven and is now exalted at the right hand of God where He is the One Mediator, fully God, fully man, in whose Person is effected the reconciliation between God and man. He will return in power and glory to judge the world and to consummate His redemptive mission. He now dwells in all believers as the living and ever present Lord.

 

Genesis 18:1ff.; Psalms 2:7ff.; 110:1ff.; Isaiah 7:14; 53; Matthew 1:18-23; 3:17; 8:29; 11:27; 14:33; 16:16,27; 17:5; 27; 28:1-6,19; Mark 1:1; 3:11; Luke 1:35; 4:41; 22:70; 24:46; John 1:1-18,29; 10:30,38; 11:25-27; 12:44-50; 14:7-11; 16:15-16,28; 17:1-5, 21-22; 20:1-20,28; Acts 1:9; 2:22-24; 7:55-56; 9:4-5,20; Romans 1:3-4; 3:23-26; 5:6-21; 8:1-3,34; 10:4; 1 Corinthians 1:30; 2:2; 8:6; 15:1-8,24-28; 2 Corinthians 5:19-21; 8:9; Galatians 4:4-5; Ephesians 1:20; 3:11; 4:7-10; Philippians 2:5-11; Colossians 1:13-22; 2:9; 1 Thessalonians 4:14-18; 1 Timothy 2:5-6; 3:16; Titus 2:13-14; Hebrews 1:1-3; 4:14-15; 7:14-28; 9:12-15,24-28; 12:2; 13:8; 1 Peter 2:21-25; 3:22; 1 John 1:7-9; 3:2; 4:14-15; 5:9; 2 John 7-9; Revelation 1:13-16; 5:9-14; 12:10-11; 13:8; 19:16.

 

C. Đức Thánh Linh - God the Holy Spirit

 

Đức Thánh Linh là Linh của Đức Chúa Trời, Ngài có đầy thần tánh. Ngài là thần cảm của các thánh khi xưa viết Kinh Thánh. Qua sự khai dẫn Ngài giúp loài người hiểu biết chân lý. Ngài tán dương Đấng Christ. Ngài cáo trách loài người về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. Ngài gọi con người đến với Cứu Chúa và tái tạo họ. Trong giờ phút tái tạo, Ngài báp-tem họ vào thân thể Đấng Christ là Hội Thánh. Ngài vung bồi đức tin Cơ-đốc, an ủi và ban các ân tứ thuộc linh cho mọi tín nhân để nhờ đó họ phục vụ Đức Chúa Trời qua Hội Thánh. Ngài ấn chứng tín nhân cho đến ngày cứu chuộc sau cùng. Sự hiện diện của Ngài trong người tín đồ là sự bảo đảm của Đức Chúa Trời rằng Ngài sẽ giúp mọi tín nhân nên trưởng thành, đầy trọn tầm vóc của Đấng Christ. Ngài soi sáng và ban năng quyền trên tín hữu và hội thánh trong sự thờ phượng, truyền giảng và phục vụ.

 

The Holy Spirit is the Spirit of God, fully divine. He inspired holy men of old to write the Scriptures. Through illumination He enables men to understand truth. He exalts Christ. He convicts men of sin, of righteousness, and of judgment. He calls men to the Saviour, and effects regeneration. At the moment of regeneration He baptizes every believer into the Body of Christ. He cultivates Christian character, comforts believers, and bestows the spiritual gifts by which they serve God through His church. He seals the believer unto the day of final redemption. His presence in the Christian is the guarantee that God will bring the believer into the fullness of the stature of Christ. He enlightens and empowers the believer and the church in worship, evangelism, and service.

 

Genesis 1:2; Judges 14:6; Job 26:13; Psalms 51:11; 139:7ff.; Isaiah 61:1-3; Joel 2:28-32; Matthew 1:18; 3:16; 4:1; 12:28-32; 28:19; Mark 1:10,12; Luke 1:35; 4:1,18-19; 11:13; 12:12; 24:49; John 4:24; 14:16-17,26; 15:26; 16:7-14; Acts 1:8; 2:1-4,38; 4:31; 5:3; 6:3; 7:55; 8:17,39; 10:44; 13:2; 15:28; 16:6; 19:1-6; Romans 8:9-11,14-16,26-27; 1 Corinthians 2:10-14; 3:16; 12:3-11,13; Galatians 4:6; Ephesians 1:13-14; 4:30; 5:18; 1 Thessalonians 5:19; 1 Timothy 3:16; 4:1; 2 Timothy 1:14; 3:16; Hebrews 9:8,14; 2 Peter 1:21; 1 John 4:13; 5:6-7; Revelation 1:10; 22:17.

 

III. Loài Người - Man

 

Loài người là một tạo vật chuyên biệt, được Đức Chúa Trời tạo dựng trong hình ảnh Ngài. Ngài dựng nên người nam và người nữ như tuyệt tác trong sự sáng tạo của Ngài. Tính phái là ơn của Ngài ban cho họ để bày tỏ sự tốt lành của Ngài. Trong buổi sáng thế loài người vô tội và được Đấng Tạo Hóa ban cho quyền tự do lựa chọn. Vì sự tự do lựa chọn, loài người đã phạm tội chóng nghịch Đức Chúa Trời và đưa tội lỗi vào nhân thế. Qua sự cám dỗ của quỷ sa-tan, loài người đã vi phạm mệnh lệnh của Đức Chúa Trời, đánh mật sự vô tội ban đầu. Bởi thế, hậu tự của họ thừa kế một bản chất và một môi trường nghiêng về tội lỗi. Ngay khi họ ý thực được những hành động đạo đức, họ lại phạm tội và phải ở dưới sự định tội. Chỉ bởi ân phúc mà Đức Chúa Trời đem họ vào mối tương giao thánh cùng giúp họ làm trọn mục đích sáng tạo của Ngài. Sự thiêng liêng trong cá tính loài người là bằng chứng cho việc Đức Chúa Trời dựng nên họ trong hình ảnh Ngài, và vì lẽ đó mà Đấng Christ đã chết thay cho họ. Thế nên, mỗi người đều thừa hưởng trọn vẹn giá trị nhân phẩm, sự kính trọng và sự yêu thương.

 

Man is the special creation of God, made in His own image. He created them male and female as the crowning work of His creation. The gift of gender is thus part of the goodness of God's creation. In the beginning man was innocent of sin and was endowed by his Creator with freedom of choice. By his free choice man sinned against God and brought sin into the human race. Through the temptation of Satan man transgressed the command of God, and fell from his original innocence whereby his posterity inherit a nature and an environment inclined toward sin. Therefore, as soon as they are capable of moral action, they become transgressors and are under condemnation. Only the grace of God can bring man into His holy fellowship and enable man to fulfill the creative purpose of God. The sacredness of human personality is evident in that God created man in His own image, and in that Christ died for man; therefore, every person of every race possesses full dignity and is worthy of respect and Christian love.

 

Genesis 1:26-30; 2:5,7,18-22; 3; 9:6; Psalms 1; 8:3-6; 32:1-5; 51:5; Isaiah 6:5; Jeremiah 17:5; Matthew 16:26; Acts 17:26-31; Romans 1:19-32; 3:10-18,23; 5:6,12,19; 6:6; 7:14-25; 8:14-18,29; 1 Corinthians 1:21-31; 15:19,21-22; Ephesians 2:1-22; Colossians 1:21-22; 3:9-11.

 

IV. Sự Cứu Rỗi- Salvation

 

Sự cứu rỗi linh hồn liên quan đến sự cứu chuộc toàn diện. Đây là sự ban cho cách nhưng không cho những ai tiếp nhận Đức Chúa Jêsus Christ làm Chúa và Cứu Chúa. Vì Chúa đã lấy chính huyết mình làm sự cứu chuộc đời đời cho mọi người tin. Trong một ý nghĩa rộng hơn, sự cứu rỗi bao gồm sự tái tạo, sự xưng công bình sự nên thánh và vinh hiển. Không có sự cứu rỗi nào ngoài việc đặt niềm tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Chủ.

 

A. Tái tạo hay tân sinh, là một công tác do ân phúc của Đức Chúa Trời nhờ đó những người tin trở nên những tạo vật mới trong Đức Chúa Jêsus Christ. Đây là sự thay đổi nội tâm do Đức Thánh Linh đem đến bởi sự cáo trách về tội lỗi, nhờ đó đưa tội nhân đến sự ăn năng tội, quay về với Đức Chúa Trời và đặt niềm tin vào Đức Chúa Jêsus Christ. Ăn năng và đức tin là kinh nghiệm ân phúc không thể phân rẻ được.

 

Ăn năng là lòng chân thành dứt khoát với tội lỗi để đến với Đức Chúa Trời. Đức tin là tiếp nhận Đức Chúa Jêsus Christ và ủy thác trọn vẹn đời sống cá nhân cho Chúa và tôn Ngài làm Cứu Chúa.

 

B. Sự xưng công bình là ân phúc của Đức Chúa Trời và sự tha bổng dựa trên nguyên tắc công bình của Chúa cho mọi tội nhân biết ăn năng và tin vào Đấng Christ. Sự xưng công bình đem người tin vào mối tương giao với Đức Chúa Trời trong sự bình an và đẹp lòng Chúa.

 

C. Sự nên thánh là một từng trải bắt đầu bằng sự tái tạo, nhờ đó tính nhân được biệt riêng cho mục đích của Đức Chúa Trời, và được thêm sức để tấn tới trên con đường luân lý và trưởng thành tâm linh qua sự hiện diện cùng quyền năng của Đức Thánh Linh là Đấng ngự trong mọi tín nhân. Việc tăng trưởng trong ân phúc cần được tiếp nối liên tục suốt cuộc đời của một người đã được tái tạo.

 

D. Sự vinh hiển là tuyệt đỉnh của sự cứu rỗi, là phước hạnh và trạng thái cuối cùng của những người được cứu.

 

Salvation involves the redemption of the whole man, and is offered freely to all who accept Jesus Christ as Lord and Saviour, who by His own blood obtained eternal redemption for the believer. In its broadest sense salvation includes regeneration, justification, sanctification, and glorification. There is no salvation apart from personal faith in Jesus Christ as Lord.

 

A. Regeneration, or the new birth, is a work of God's grace whereby believers become new creatures in Christ Jesus. It is a change of heart wrought by the Holy Spirit through conviction of sin, to which the sinner responds in repentance toward God and faith in the Lord Jesus Christ. Repentance and faith are inseparable experiences of grace.

 

Repentance is a genuine turning from sin toward God. Faith is the acceptance of Jesus Christ and commitment of the entire personality to Him as Lord and Saviour.

 

B. Justification is God's gracious and full acquittal upon principles of His righteousness of all sinners who repent and believe in Christ. Justification brings the believer unto a relationship of peace and favor with God.

 

C. Sanctification is the experience, beginning in regeneration, by which the believer is set apart to God's purposes, and is enabled to progress toward moral and spiritual maturity through the presence and power of the Holy Spirit dwelling in him. Growth in grace should continue throughout the regenerate person's life.

 

D. Glorification is the culmination of salvation and is the final blessed and abiding state of the redeemed.

 

Genesis 3:15; Exodus 3:14-17; 6:2-8; Matthew 1:21; 4:17; 16:21-26; 27:22-28:6; Luke 1:68-69; 2:28-32; John 1:11-14,29; 3:3-21,36; 5:24; 10:9,28-29; 15:1-16; 17:17; Acts 2:21; 4:12; 15:11; 16:30-31; 17:30-31; 20:32; Romans 1:16-18; 2:4; 3:23-25; 4:3ff.; 5:8-10; 6:1-23; 8:1-18,29-39; 10:9-10,13; 13:11-14; 1 Corinthians 1:18,30; 6:19-20; 15:10; 2 Corinthians 5:17-20; Galatians 2:20; 3:13; 5:22-25; 6:15; Ephesians 1:7; 2:8-22; 4:11-16; Philippians 2:12-13; Colossians 1:9-22; 3:1ff.; 1 Thessalonians 5:23-24; 2 Timothy 1:12; Titus 2:11-14; Hebrews 2:1-3; 5:8-9; 9:24-28; 11:1-12:8,14; James 2:14-26; 1 Peter 1:2-23; 1 John 1:6-2:11; Revelation 3:20; 21:1-22:5.

 

V. Mục Đích Ân Phúc của Đức Chúa Trời - God's Purpose of Grace

 

Sự lựa chọn là một mục đích quảng đại của Đức Chúa Trời; theo đó Ngài tái tạo, xưng công bình, xưng có nghĩa là làm vinh hiển tội nhân. Điều nầy thích hợp với ý chí tự do của loài người, và thâu tóm mọi phương tiện để đạt đến cứu cánh. Điều đó biểu dương rạng rỡ lòng nhân đức tối thượng, sự khôn ngoan vô hạn, thánh khiết và không thay đổi của Đức Chúa Trời. Việc đánh đổ sự khoe khoang, và cổ xúy lòng khiêm nhường.

 

Tất cả những tín nhân chân thật sẽ bền lòng cho đến cuối cùng. Những ai đã được Đức Chúa Trời thừa nhận trong Đấng Christ, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh sẽ không bao giờ mất phần ân điển, nhưng sẽ được gìn giữ cho đến cuối cùng. Tín nhân đôi khi phạm tội vì khinh thường sự cám dỗ hay sơ sót, bởi đó làm buồn Đức Thánh Linh, tổn thương ân phúc và sự an ủi, là duyên cớ khiến Đấng Christ bị chê trách, và chính họ phải lãnh lấy sự đoán xét nhất thời. Tuy nhiên nhờ đức tin họ sẽ được quyền năng của Đức Chúa Trời gìn giữ cho đến kỳ cứu rỗi.

 

Election is the gracious purpose of God, according to which He regenerates, justifies, sanctifies, and glorifies sinners. It is consistent with the free agency of man, and comprehends all the means in connection with the end. It is the glorious display of God's sovereign goodness, and is infinitely wise, holy, and unchangeable. It excludes boasting and promotes humility.

 

All true believers endure to the end. Those whom God has accepted in Christ, and sanctified by His Spirit, will never fall away from the state of grace, but shall persevere to the end. Believers may fall into sin through neglect and temptation, whereby they grieve the Spirit, impair their graces and comforts, and bring reproach on the cause of Christ and temporal judgments on themselves; yet they shall be kept by the power of God through faith unto salvation.

 

Genesis 12:1-3; Exodus 19:5-8; 1 Samuel 8:4-7,19-22; Isaiah 5:1-7; Jeremiah 31:31ff.; Matthew 16:18-19; 21:28-45; 24:22,31; 25:34; Luke 1:68-79; 2:29-32; 19:41-44; 24:44-48; John 1:12-14; 3:16; 5:24; 6:44-45,65; 10:27-29; 15:16; 17:6,12,17-18; Acts 20:32; Romans 5:9-10; 8:28-39; 10:12-15; 11:5-7,26-36; 1 Corinthians 1:1-2; 15:24-28; Ephesians 1:4-23; 2:1-10; 3:1-11; Colossians 1:12-14; 2 Thessalonians 2:13-14; 2 Timothy 1:12; 2:10,19; Hebrews 11:39–12:2; James 1:12; 1 Peter 1:2-5,13; 2:4-10; 1 John 1:7-9; 2:19; 3:2.

 

VI. Hội Thánh - The Church

 

Một Hội Thánh Tân Ước của Đức Chúa Jêsus Christ là một đoàn thể địa phương tự trị gồm những tín nhân đã nhận lễ báp-têm là những người hiệp cùng nhau bởi giao ước của đức tin và sự thông công của tin lành, giữ hai thánh nghi của Đấng Christ, quyết tâm theo sự dạy dỗ của Ngài, tận dụng những ân-tứ, quyền hạn và đặc ân được ban cho họ qua Lời Chúa, và tìm cách phát huy tin lành cho đến tận cùng trái đất.

 

Mọi Hội Thánh điều hành theo thể thức dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đức Chúa Jêsus Christ. Trong một đoàn thể như thế mọi hội viên đều có trách nhiệm và bổn phận trước Đấng Christ làm Chủ là Đức Chúa Jêsus Christ. Theo Kinh Thánh thì những chức viên (officers) là mục sư và chấp sự. Người nam và nữ để Chúa ban ơn để phục vụ Chúa trong Hội Thánh, riêng chức vụ mục sư chỉ giới hạn trong vòng người nam y theo tiêu chuẩn Kinh Thánh.

 

Kính Thánh Tân Ước cũng nói đến Hội Thánh là than thể của Đấng Christ bao gồm những người được cứu qua mọi thời đại, những tính nhân từ mọi bộ lạc, chủng tộc, ngôn ngữ, và quốc gia.

 

A New Testament church of the Lord Jesus Christ is an autonomous local congregation of baptized believers, associated by covenant in the faith and fellowship of the gospel; observing the two ordinances of Christ, governed by His laws, exercising the gifts, rights, and privileges invested in them by His Word, and seeking to extend the gospel to the ends of the earth. Each congregation operates under the Lordship of Christ through democratic processes. In such a congregation each member is responsible and accountable to Christ as Lord. Its scriptural officers are pastors and deacons. While both men and women are gifted for service in the church, the office of pastor is limited to men as qualified by Scripture.

 

The New Testament speaks also of the church as the Body of Christ which includes all of the redeemed of all the ages, believers from every tribe, and tongue, and people, and nation.

 

Matthew 16:15-19; 18:15-20; Acts 2:41-42,47; 5:11-14; 6:3-6; 13:1-3; 14:23,27; 15:1-30; 16:5; 20:28; Romans 1:7; 1 Corinthians 1:2; 3:16; 5:4-5; 7:17; 9:13-14; 12; Ephesians 1:22-23; 2:19-22; 3:8-11,21; 5:22-32; Philippians 1:1; Colossians 1:18; 1 Timothy 2:9-14; 3:1-15; 4:14; Hebrews 11:39-40; 1 Peter 5:1-4; Revelation 2-3; 21:2-3.

 

VII. Lễ Báp-têm và Tiệc Thánh - Baptism and the Lord's Supper

 

Lễ Báp-têm Cơ-đốc được thực hiện bằng cách dìm cả mình người tin vào trong nước, nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh. Đây là một hành động vâng lời, cùng tượng trưng cho đức tin của tín nhân trong sự chết, chôn và sống lại của Cứu Chúa. Điều nầy tượng trưng cho tín nhân trong việc chết đối với tội lỗi, được chon cuộc đời cũ và sống lại để bước đi trong cuộc đời mới với Chúa Cứu Thế Jêsus. Đây là một lời chứng cho đức tin của tín nhân trong sự sống lại sau cùng của kẻ chết. Là một thánh lễ của Hội Thánh, lễ báp-têm là một điều kiện tiên quyết để được làm hội viên của Hội Thánh và để dự tiệc thánh.

 

Tiệc Thánh là một hành động tiêu biểu cho sự vâng lời bởi đó các hội viên của hội thánh qua việc dùng bánh và nước nho, tưởng nhớ đến sự chết của Đấng Cứu Chuộc và mong đợi sự tái lâm của Ngài.

 

Christian baptism is the immersion of a believer in water in the name of the Father, the Son, and the Holy Spirit. It is an act of obedience symbolizing the believer's faith in a crucified, buried, and risen Saviour, the believer's death to sin, the burial of the old life, and the resurrection to walk in newness of life in Christ Jesus. It is a testimony to his faith in the final resurrection of the dead. Being a church ordinance, it is prerequisite to the privileges of church membership and to the Lord's Supper.

 

The Lord's Supper is a symbolic act of obedience whereby members of the church, through partaking of the bread and the fruit of the vine, memorialize the death of the Redeemer and anticipate His second coming.

 

Matthew 3:13-17; 26:26-30; 28:19-20; Mark 1:9-11; 14:22-26; Luke 3:21-22; 22:19-20; John 3:23; Acts 2:41-42; 8:35-39; 16:30-33; 20:7; Romans 6:3-5; 1 Corinthians 10:16,21; 11:23-29; Colossians 2:12.

 

VIII. Ngày của Đức Chúa Trời - The Lord's Day

 

Ngày thứ nhất của tuần lễ là Ngày của Chúa. Người Cơ Đốc chọn ngày nầy làm ngày lễ hằng tuần. Đây là ngày kỷ niệm sự sống lại của Đấng Christ từ kẻ chết, nên nó phải được dùng trong sự thờ phượng và tĩnh dưỡng tâm linh từ nơi riêng tư đến nơi công cộng. Mọi hành động trong Ngày của Chúa cần được sử dụng xứng đáng với lương tâm Cơ-đốc và phản ảnh quyền làm Chủ của Đức Chúa Jêsus Christ trong Ngày ấy.

 

The first day of the week is the Lord's Day. It is a Christian institution for regular observance. It commemorates the resurrection of Christ from the dead and should include exercises of worship and spiritual devotion, both public and private. Activities on the Lord's Day should be commensurate with the Christian's conscience under the Lordship of Jesus Christ.

 

Exodus 20:8-11; Matthew 12:1-12; 28:1ff.; Mark 2:27-28; 16:1-7; Luke 24:1-3,33-36; John 4:21-24; 20:1,19-28; Acts 20:7; Romans 14:5-10; I Corinthians 16:1-2; Colossians 2:16; 3:16; Revelation 1:10.

 

IX. Nước Đức Chúa Trời - The Kingdom

 

Nước Đức Chúa Trời bao gồm quyền tể trị chung cả vũ trụ của Đức Chúa Trời và quyền tể trị riêng của Ngài trên những người nhận Ngài là Vua của họ. Nói riêng, Nước Trời trong lãnh vực cứu chuộc nhân loại là con người bằng lòng đặc niềm tin cậy đơn sơ như con trẻ của mình vào Đức Chúa Jêsus Christ. Người Cơ Đốc phải cầu nguyện và góp phần phục vụ để Nước Trời sớm đến và ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện trên đất. Tuyệt điểm của Nước Đức Chúa Trời là chuẩn bị cho sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ và sự chung kết của thời đại.

 

The Kingdom of God includes both His general sovereignty over the universe and His particular kingship over men who willfully acknowledge Him as King. Particularly the Kingdom is the realm of salvation into which men enter by trustful, childlike commitment to Jesus Christ. Christians ought to pray and to labor that the Kingdom may come and God's will be done on earth. The full consummation of the Kingdom awaits the return of Jesus Christ and the end of this age.

 

Genesis 1:1; Isaiah 9:6-7; Jeremiah 23:5-6; Matthew 3:2; 4:8-10,23; 12:25-28; 13:1-52; 25:31-46; 26:29; Mark 1:14-15; 9:1; Luke 4:43; 8:1; 9:2; 12:31-32; 17:20-21; 23:42; John 3:3; 18:36; Acts 1:6-7; 17:22-31; Romans 5:17; 8:19; 1 Corinthians 15:24-28; Colossians 1:13; Hebrews 11:10,16; 12:28; 1 Peter 2:4-10; 4:13; Revelation 1:6,9; 5:10; 11:15; 21-22.

 

X. Những Sự Cúi Cùng - Last Things

 

Đức Chúa Trời sẽ đưa thế giới nầy đến chổ tận chung bằng phương cách và thời điểm của Ngài. Theo lời Ngài đã hứa, Đức Chúa Jêsus Christ sẽ đích thân trở lại và mọi người trên đất sẽ thấy Ngài trong vinh hiển; những người chết sẽ sống lại, và Đấng Christ sẽ xét đoán mọi người bằng sự công bình. Những người không công bình sẽ bị đưa vào Địa Ngục, nơi đó họ sẽ chịu hình phạt đời đời. Người công bình trong thân thể phục sinh và vinh hiển sẽ nhận được phần thưởng của họ, và họ sẽ vĩnh viễn với Chúa nơi Thiên Đàng.

 

God, in His own time and in His own way, will bring the world to its appropriate end. According to His promise, Jesus Christ will return personally and visibly in glory to the earth; the dead will be raised; and Christ will judge all men in righteousness. The unrighteous will be consigned to Hell, the place of everlasting punishment. The righteous in their resurrected and glorified bodies will receive their reward and will dwell forever in Heaven with the Lord.

 

Isaiah 2:4; 11:9; Matthew 16:27; 18:8-9; 19:28; 24:27,30,36,44; 25:31-46; 26:64; Mark 8:38; 9:43-48; Luke 12:40,48; 16:19-26; 17:22-37; 21:27-28; John 14:1-3; Acts 1:11; 17:31; Romans 14:10; 1 Corinthians 4:5; 15:24-28,35-58; 2 Corinthians 5:10; Philippians 3:20-21; Colossians 1:5; 3:4; 1 Thessalonians 4:14-18; 5:1ff.; 2 Thessalonians 1:7ff.; 2; 1 Timothy 6:14; 2 Timothy 4:1,8; Titus 2:13; Hebrews 9:27-28; James 5:8; 2 Peter 3:7ff.; 1 John 2:28; 3:2; Jude 14; Revelation 1:18; 3:11; 20:1-22:13.

 

 

XI. Truyền Giảng và Truyền Giáo - Evangelism and Missions

 

Đây là nhiệm vụ và đặc quyền của mỗi một người theo Đấng Christ và của mỗi Hội Thánh của Đức Chúa Jêsus Christ trong nỗ lực khiến muôn dân trở nên môn đồ Chúa. Sự tân tạo tâm linh trong mỗi người bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời là khởi đầu của tình yêu thương dành cho tha nhân. Mọi nổ lực truyền giáo nói chung là nhu cầu thiêng liêng của một đời sống được tái sinh. Đây là một mệnh lệnh Chúa ban và được Ngài nhắc lại nhiều lần khi dạy dỗ. Đức Chúa Jêsus Christ đã truyền cho mọi chúng ta phải giảng Tin Lành của Ngài ra cho đến cùng trái đất. Đây là trách nhiệm của mỗi một con dân Chúa, bền chí tìm kiếm và đưa những người hư mất đến với Đấng Christ bằng lời chứng hay cách ăn ở của người tin kính Chúa hoặc những phương cách truyền giáo phù hợp với tin lành của Đấng Christ.

 

It is the duty and privilege of every follower of Christ and of every church of the Lord Jesus Christ to endeavor to make disciples of all nations. The new birth of man's spirit by God's Holy Spirit means the birth of love for others. Missionary effort on the part of all rests thus upon a spiritual necessity of the regenerate life, and is expressly and repeatedly commanded in the teachings of Christ. The Lord Jesus Christ has commanded the preaching of the gospel to all nations. It is the duty of every child of God to seek constantly to win the lost to Christ by verbal witness undergirded by a Christian lifestyle, and by other methods in harmony with the gospel of Christ.

 

Genesis 12:1-3; Exodus 19:5-6; Isaiah 6:1-8; Matthew 9:37-38; 10:5-15; 13:18-30, 37-43; 16:19; 22:9-10; 24:14; 28:18-20; Luke 10:1-18; 24:46-53; John 14:11-12; 15:7-8,16; 17:15; 20:21; Acts 1:8; 2; 8:26-40; 10:42-48; 13:2-3; Romans 10:13-15; Ephesians 3:1-11; 1 Thessalonians 1:8; 2 Timothy 4:5; Hebrews 2:1-3; 11:39-12:2; 1 Peter 2:4-10; Revelation 22:17.

 

XII. Giáo Dục - Education

 

Niềm tin Cơ Đốc được dựng trên cơ sở sáng tỏ và khôn ngoan. Đức Chúa Jêsus Christ là sự gồm tóm mọi gia sản khôn ngoan và hiểu biết. Sự tân sinh mở mọi phương tiện cho con người và tạo nên lòng them khát sự tri thức. Hơn thế nữa, công tác giáo dục trong Nước Đấng Christ cũng có những thúc giục ngang bằng với các công tác truyền giáo và tương tế chung, vì thế họ đáng nhận sự hậu thuẫn rời rộng từ các Hội Thánh như các công tác kia. Hệ thống Cơ Đốc giáo dục cần phải đầy đủ để hoàn thành chương trình giáo dục tâm linh cho con dân Đấng Christ.

 

Cơ Đốc Giáo Dục cần lưu ý đến sự quân bình giữa sự tự do giáo huấn và trách nhiệm giáo huấn. Tự do trong bất cứ tương quan trật tự nào của loài người đều có sự giới hạn và không bao giờ tuyệt đối. Sự tự do của một nhà giáo trong một Trường Tin Lành, Đại Học Tin Lành, hay Đại Chủng Viện được giới hạn bởi sự siêu việt của Đức Chúa Jêsus Christ, bởi thẩm quyền của Kinh Thánh và bởi mục đích trường tồn của từng cơ sở giáo dục chuyên biệt.

 

Christianity is the faith of enlightenment and intelligence. In Jesus Christ abide all the treasures of wisdom and knowledge. All sound learning is, therefore, a part of our Christian heritage. The new birth opens all human faculties and creates a thirst for knowledge. Moreover, the cause of education in the Kingdom of Christ is co-ordinate with the causes of missions and general benevolence, and should receive along with these the liberal support of the churches. An adequate system of Christian education is necessary to a complete spiritual program for Christ's people.

 

In Christian education there should be a proper balance between academic freedom and academic responsibility. Freedom in any orderly relationship of human life is always limited and never absolute. The freedom of a teacher in a Christian school, college, or seminary is limited by the pre-eminence of Jesus Christ, by the authoritative nature of the Scriptures, and by the distinct purpose for which the school exists.

 

Deuteronomy 4:1,5,9,14; 6:1-10; 31:12-13; Nehemiah 8:1-8; Job 28:28; Psalms 19:7ff.; 119:11; Proverbs 3:13ff.; 4:1-10; 8:1-7,11; 15:14; Ecclesiastes 7:19; Matthew 5:2; 7:24ff.; 28:19-20; Luke 2:40; 1 Corinthians 1:18-31; Ephesians 4:11-16; Philippians 4:8; Colossians 2:3,8-9; 1 Timothy 1:3-7; 2 Timothy 2:15; 3:14-17; Hebrews 5:12-6:3; James 1:5; 3:17.

 

XIII. Trách Nhiệm Quản Gia - Stewardship

 

Đức Chúa Trời là nguồn của mọi ơn phước, trên cả các vật tạm thời lẫn thuộc linh; tất cả những gì chúng ta có và được đều do Chúa mà đến. Tất cả Cơ-đốc-nhân đều mắc nợ thuộc linh cho toàn thế giới, giữ sự ủy nhiệm thánh trong Tin Lành, và có trách nhiệm quản lý các sở hữu họ có được. Vì thế họ có bổn phận phục vụ Chúa bằng thì giờ, tài năng và những tài vật; họ nên nhận biết rằng Chúa đã ủy thác tất cả những thứ đó cho họ để sử dụng trong sự vinh hiển của Chúa và cho việc giúp đỡ kẻ khác. Theo Kinh Thánh, người Cơ-đốc nên dâng hiến những gì họ có cách vui lòng, thường xuyên, có hệ thống, tương xứng, và rời rộng cho sự quản bá công tác của Đấng Cứu Chuộc trên thế gian.

 

God is the source of all blessings, temporal and spiritual; all that we have and are we owe to Him. Christians have a spiritual debtorship to the whole world, a holy trusteeship in the gospel, and a binding stewardship in their possessions. They are therefore under obligation to serve Him with their time, talents, and material possessions; and should recognize all these as entrusted to them to use for the glory of God and for helping others. According to the Scriptures, Christians should contribute of their means cheerfully, regularly, systematically, proportionately, and liberally for the advancement of the Redeemer's cause on earth.

 

Genesis 14:20; Leviticus 27:30-32; Deuteronomy 8:18; Malachi 3:8-12; Matthew 6:1-4,19-21; 19:21; 23:23; 25:14-29; Luke 12:16-21,42; 16:1-13; Acts 2:44-47; 5:1-11; 17:24-25; 20:35; Romans 6:6-22; 12:1-2; 1 Corinthians 4:1-2; 6:19-20; 12; 16:1-4; 2 Corinthians 8-9; 12:15; Philippians 4:10-19; 1 Peter 1:18-19.

 

XIV. Chương Trình Hợp Tác - Cooperation

 

Con dân Đấng Christ vì nhu cầu đòi hỏi nên thành lập các tổ chức Liên Hiệp Quận (associations), các Đại Hội Vùng (conventions), hầu tìm cách tốt nhất bảo đảm sự hợp tác hầu làm trọn các mục tiêu lớn của Nước Đức Chúa Trời. Những tổ chức nầy không có quyền hạn gì trên nhau và cũng không có quyền gì trên các Hội Thánh. Đây là những chi thể tự nguyện và cố vấn; họ được chỉ định để rút tỉa, phối hợp và huy động năng lực của dân sự Chúa trong một chiều hướng hữu hiệu nhất. Hội viên của những Hội Thánh Tân Ước nên hợp tác với nhau để tiến hành các mục vụ truyền giáo, giáo dục và từ thiện nhằm mở mang Vương Quốc Đấng Christ. Sự hợp nhất Cơ Đốc trong Tân Ước mang ý nghĩa là sự hợp nhất và tự nguyện hợp tác cho một cứu cánh chung bởi nhiều nhóm khác nhau của con dân Đấng Christ. Sự hợp tác cũng rất cần giữa vòng những hệ phái khác nhau, tự nó sẽ chứng minh khi cứu cánh được thành tựu và khi việc hợp tác đó không vi phạm đến lương tâm hoặc có nguy hại đến lòng trung thành với Đấng Christ và Lời của Ngài như đã được bày tỏ trong Tân Ước.

 

Christ's people should, as occasion requires, organize such associations and conventions as may best secure cooperation for the great objects of the Kingdom of God. Such organizations have no authority over one another or over the churches. They are voluntary and advisory bodies designed to elicit, combine, and direct the energies of our people in the most effective manner. Members of New Testament churches should cooperate with one another in carrying forward the missionary, educational, and benevolent ministries for the extension of Christ's Kingdom. Christian unity in the New Testament sense is spiritual harmony and voluntary cooperation for common ends by various groups of Christ's people. Cooperation is desirable between the various Christian denominations, when the end to be attained is itself justified, and when such cooperation involves no violation of conscience or compromise of loyalty to Christ and His Word as revealed in the New Testament.

 

Exodus 17:12; 18:17ff.; Judges 7:21; Ezra 1:3-4; 2:68-69; 5:14-15; Nehemiah 4; 8:1-5; Matthew 10:5-15; 20:1-16; 22:1-10; 28:19-20; Mark 2:3; Luke 10:1ff.; Acts 1:13-14; 2:1ff.; 4:31-37; 13:2-3; 15:1-35; 1 Corinthians 1:10-17; 3:5-15; 12; 2 Corinthians 8-9; Galatians 1:6-10; Ephesians 4:1-16; Philippians 1:15-18.

 

XV. Cô Đốc Nhân và Trật Tự Xã Hội - The Christian and the Social Order

 

Mọi Cơ Đốc Nhân có trách nhiệm đặt ý chỉ của Đấng Christ lên thứ tự tối thượng trong đời sống và trong xã hội. Những phương tiện và phương pháp sử dụng để cải tiến xã hội và thiết lập công bình giữa loài người chỉ có thể trở nên hữu ích, lâu bền và chân chính khi những điều ấy bắt nguồn từ đời sốn đã được đổi mới bởi ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong Đấng Cứu Thế Jêsus. Người Cơ Đốc theo tinh thần Đấng Christ nên chống lại mọi hình thức kỳ thị, tham lam, ích kỷ thói xấu, và mọi hình thức dục tình vô đạo như: ngoại tình, đồng tình luyến ái, và hình ảnh khiêu dâm. Người Cơ Đốc nên thực hiện công tác tiếp trợ cho cô nhi, kẻ thiếu thốn, người bị bạc đải, người già cả, kẻ không thể tự giúp mình được, và những người ốm đau. Chúng ta phải là tiếng nói cho các thai nhi và đấu tranh cho quyền tôn trọng sự sống con người từ lúc hoài thai cho đến khi qua đời các tự nhiên. Mỗi Cơ Đốc Nhân nên tìm cách đem các nguyên tắc công bình, chân thật và tình huynh đệ vào kỹ nghệ, chính quyền và xả hội. Để cổ xúy cho những cứu cánh nầy Cơ Đốc Nhân nên sẵn sàng làm việc với tất cả những người có thiện ý trong bất cứ sự kêu gọi tốt lành nào, luôn luôn hành động trong tinh thần yêu thương nhưng không trái với sự trung thành của mình với Đấng Christ và chân lý của Ngài.

 

All Christians are under obligation to seek to make the will of Christ supreme in our own lives and in human society. Means and methods used for the improvement of society and the establishment of righteousness among men can be truly and permanently helpful only when they are rooted in the regeneration of the individual by the saving grace of God in Jesus Christ. In the spirit of Christ, Christians should oppose racism, every form of greed, selfishness, and vice, and all forms of sexual immorality, including adultery, homosexuality, and pornography. We should work to provide for the orphaned, the needy, the abused, the aged, the helpless, and the sick. We should speak on behalf of the unborn and contend for the sanctity of all human life from conception to natural death. Every Christian should seek to bring industry, government, and society as a whole under the sway of the principles of righteousness, truth, and brotherly love. In order to promote these ends Christians should be ready to work with all men of good will in any good cause, always being careful to act in the spirit of love without compromising their loyalty to Christ and His truth.

 

Exodus 20:3-17; Leviticus 6:2-5; Deuteronomy 10:12; 27:17; Psalm 101:5; Micah 6:8; Zechariah 8:16; Matthew 5:13-16,43-48; 22:36-40; 25:35; Mark 1:29-34; 2:3ff.; 10:21; Luke 4:18-21; 10:27-37; 20:25; John 15:12; 17:15; Romans 12–14; 1Corinthians 5:9-10; 6:1-7; 7:20-24; 10:23-11:1; Galatians 3:26-28; Ephesians 6:5-9; Colossians 3:12-17; 1 Thessalonians 3:12; Philemon; James 1:27; 2:8.

 

XVI. Chiến Tranh và Hòa Bình - Peace and War

 

Bổn phận của Cơ Đốc Nhân là tìm kiếm sự hòa bình với tất cả mọi người dựa trên những nguyên tắc công bình. Theo tinh thần và sự dạy dỗ của Đấng Christ họ phải làm hết sức mình để chấm dứt chiến tranh.

 

Liều thuốc thật chữa trị tinh thần hiếu chiến là Tin Lành của Chúa chúng ta. Nhu cầu cấp thiết của thế giới là chấp nhận sự dạy dỗ của Ngài trong tất cả mọi lãnh vực của loài người và mọi quốc gia, cùng áp dụng thực tiển luật yêu thương của Ngài. Cơ Đốc Nhân trên khắp thế giới nên cầu cho sự tể trị của Hoàng-tử Bình-an.

 

It is the duty of Christians to seek peace with all men on principles of righteousness. In accordance with the spirit and teachings of Christ they should do all in their power to put an end to war.

 

The true remedy for the war spirit is the gospel of our Lord. The supreme need of the world is the acceptance of His teachings in all the affairs of men and nations, and the practical application of His law of love. Christian people throughout the world should pray for the reign of the Prince of Peace.

 

Isaiah 2:4; Matthew 5:9,38-48; 6:33; 26:52; Luke 22:36,38; Romans 12:18-19; 13:1-7; 14:19; Hebrews 12:14; James 4:1-2.

 

XVII. Tự Do Tính Ngưỡng - Religious Liberty

 

Chỉ có Đức Chúa Trời là Chúa của lương tâm và Ngài đã để cho lương tâm có sự tự do khỏi những giáo lý và điều răng của loài người là những điều trái ngược với lời Ngài, hoặc chối bỏ lời đó. Tổ chức của tôn giáo và thẩm quyền của Quốc gia phải tách rời nhau. Quốc gia phải bảo vệ Hội Thánh và để Hội Thánh tự do hoàn toàn trong sự đeo đuổi cứu cánh tâm linh. Để thực hiện quyền tự do nầy, không có một tổ chức tôn giáo hoặc giáo phái nào được chính quyền thiên vị hơn những nhóm khác. Chính quyền được lập nên để làm chức việc Đức Chúa Trời ủy thác; thế nên bổn phận của người Cơ Đốc là vâng phục, trung thành trong tất cả mọi quy định của chính quyền, miễn là chúng không đi ngược với ý chỉ của Đức Chúa Trời. Hội Thánh không nên nhờ vả vào quyền hành của chính quyền để thực hiện các công việc của mình. Tin lành của Đấng Christ chì sử dụng các phương tiện thuộc linh để đạt đến cứu cánh mà thôi. Quốc gia không có quyền áp đặt hình phạt trên các quan điểm tốn giáo dưới bất kỳ hình thức nào. Quốc gia không có quyền bắt nộp thuế để hổ trợ bất cứ hình thức tôn giáo nào. Một điều lý tưởng cho Cơ Đốc Nhân là một Hội Thánh tự do trong một quốc gia tự do, và điều nầy cũng hàm ý quyền tự do của tất cả mọi người được đến với Đức Chúa Trời, không bị ngăn cản, cùng quyền được thành lập và quảng bá ý kiến trong phạm vi tôn giáo mà không bị áp lực của chính quyền.

 

God alone is Lord of the conscience, and He has left it free from the doctrines and commandments of men which are contrary to His Word or not contained in it. Church and state should be separate. The state owes to every church protection and full freedom in the pursuit of its spiritual ends. In providing for such freedom no ecclesiastical group or denomination should be favored by the state more than others. Civil government being ordained of God, it is the duty of Christians to render loyal obedience thereto in all things not contrary to the revealed will of God. The church should not resort to the civil power to carry on its work. The gospel of Christ contemplates spiritual means alone for the pursuit of its ends. The state has no right to impose penalties for religious opinions of any kind. The state has no right to impose taxes for the support of any form of religion. A free church in a free state is the Christian ideal, and this implies the right of free and unhindered access to God on the part of all men, and the right to form and propagate opinions in the sphere of religion without interference by the civil power.

 

Genesis 1:27; 2:7; Matthew 6:6-7,24; 16:26; 22:21; John 8:36; Acts 4:19-20; Romans 6:1-2; 13:1-7; Galatians 5:1,13; Philippians 3:20; 1 Timothy 2:1-2; James 4:12; 1 Peter 2:12-17; 3:11-17; 4:12-19.

 

XVIII. Gia Đình - The Family

 

Chúa đã thiết lập gia đình như một đơn vị nền tảng cho xả hội loài người. Đây là một tập hợp nhiều người trong quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống hay sự thừa nhận.

 

Hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ trong một kết ước trọn đời. Đây là một tặng phẩm chuyên biệt của Đức Chúa Trời hầu bày tỏ mối liên kết của Đấng Christ và Hội Thánh Ngài. Hầu giúp cho người nam và người nữ có một khuôn thước của hôn nhân và mối liên hệ vợ chồng, những trao đổi ái ân theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh, và tiến tới trong sự duy trì dòng giống cho nhân loại.

 

Chồng và vợ được dựng nên trong hình ảnh của Đức Chúa Trời nên cả hai đều có một giá trị như nhau trước mặt Chúa. Mối liên hệ hôn nhân của họ phải đi theo khuôn mẫu yêu thương của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài. Vậy người làm chồng phải yêu vợ mình như Đấng Christ yêu Hội Thánh. Người chống được Chúa guao trọng trách cung cấp nhu cầu cho cuộc sống, bảo vệ và hướng dẫn gia đình. Người vợ phải vui lòng thuận phục quyền chỉ đạo của chồng như Hội Thánh phục dưới quyền lãnh đạo của Đấng Christ. Người vợ được dựng nên trong hình ảnh Đức Chúa Trời như chồng mình, lẽ ấy nàng được xem là bình đẳng với chồng. Chúa ban cho nàng trách nhiệm tôn trọng chồng và phục vụ như người tiếp trợ cho chồng cai quản việc nhà, trưởng dưởng cho thế hệ mai sau.

 

Trẻ thơ, từ khi được tượng thai là ân phước và gia sản Chúa ban, thế nên cha mẹ cần bày tỏ cho chúng biết thế nào là mẫu mực hôn nhân trong Chúa. Cha mẹ phải giáo huấn tâm linh, đạo đức cho con cái mình, thường lấy gương tin kính bền bĩ mà dạy chúng, lấy sự yêu thương mà sửa phạt, cùng dạy chúng biết lấy lẽ thật của Kinh Thánh làm căn bản cho mọi quyết định của mình. Phận con cái phải hiếu kính và vâng lời cha mẹ.

 

God has ordained the family as the foundational institution of human society. It is composed of persons related to one another by marriage, blood, or adoption.

 

Marriage is the uniting of one man and one woman in covenant commitment for a lifetime. It is God's unique gift to reveal the union between Christ and His church and to provide for the man and the woman in marriage the framework for intimate companionship, the channel of sexual expression according to biblical standards, and the means for procreation of the human race.

 

The husband and wife are of equal worth before God, since both are created in God's image. The marriage relationship models the way God relates to His people. A husband is to love his wife as Christ loved the church. He has the God-given responsibility to provide for, to protect, and to lead his family. A wife is to submit herself graciously to the servant leadership of her husband even as the church willingly submits to the headship of Christ. She, being in the image of God as is her husband and thus equal to him, has the God-given responsibility to respect her husband and to serve as his helper in managing the household and nurturing the next generation.

 

Children, from the moment of conception, are a blessing and heritage from the Lord. Parents are to demonstrate to their children God's pattern for marriage. Parents are to teach their children spiritual and moral values and to lead them, through consistent lifestyle example and loving discipline, to make choices based on biblical truth. Children are to honor and obey their parents.

 

Genesis 1:26-28; 2:15-25; 3:1-20; Exodus 20:12; Deuteronomy 6:4-9; Joshua 24:15; 1 Samuel 1:26-28; Psalms 51:5; 78:1-8; 127; 128; 139:13-16; Proverbs 1:8; 5:15-20; 6:20-22; 12:4; 13:24; 14:1; 17:6; 18:22; 22:6,15; 23:13-14; 24:3; 29:15,17; 31:10-31; Ecclesiastes 4:9-12; 9:9; Malachi 2:14-16; Matthew 5:31-32; 18:2-5; 19:3-9; Mark 10:6-12; Romans 1:18-32; 1 Corinthians 7:1-16; Ephesians 5:21-33; 6:1-4; Colossians 3:18-21; 1 Timothy 5:8,14; 2 Timothy 1:3-5; Titus 2:3-5; Hebrews 13:4; 1 Peter 3:1-7.

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 17 Tháng 3 2008 15:11 )